Tìm hiểu giáo lý Đạo Phật về sự chấm dứt khổ đau, bốn tầng giác ngộ,
Bát Chánh Đạo, Luật Nghiệp và Chánh Kiến.

HỎI ĐÁP CĂN BẢN TỔNG QUAN VỀ ĐẠO PHẬT – CÂU 26 – 30
Câu hỏi số 26: DIỆT ĐẾ LÀ GÌ?
Đáp: Diệt Đế là Trạng thái không còn đau khổ, là các Thánh quả tu hành thành công, là sự Giác ngộ Giải thoát đúng với mục đích của Phật dạy.
Các tôn giáo thường xem việc sinh về cõi trời sau khi chết là đã đạt được kết quả mỹ mãn của một tín đồ chân chính, nhưng đối với đạo Phật, phải đạt được nội tâm chứng ngộ phi thường mới gọi là đạt kết quả tu hành, vì sau khi chứng quả giác ngộ, vị này có thể tự tại đến nơi nào mình muốn, hoặc không cần phải đến đâu nếu mình không muốn. Có bốn thánh quả như sau :
-
A la hán, quả thánh thứ tư, là quả thánh cao nhất, có đủ Tam minh Lục thông, hoàn toàn giải thoát khỏi pháp giới vũ trụ, không nơi nào có thể ràng buộc được, sự sáng suốt giác ngộ là vô cùng tận.
-
A na hàm, quả thánh thứ ba, không còn bị tái sinh về cõi Người nữa (nếu không muốn), có nhiều thần thông trí tuệ thần lực, thường là sinh về cư trú ở cõi trời Sắc cứu kính, cõi Trời cao nhất trong Sắc giới, rồi ở đó tu hành cho đến khi chứng quả A la hán có thể nhập Niết bàn tại đó.
-
Tư đà hàm, quả thánh thứ hai, có thể phải tái sinh về cõi Người một lần để làm tròn công đức và hạnh nguyện, có nội tâm rất thanh tịnh, có một số thần thông cơ bản, sau khi chết thường sinh về cõi Trời Đẩu suất để nương theo tu học với Phật Di Lặc, là vị Phật tương lai của Địa cầu này ở vài trăm nghìn năm sau nữa.
-
Tu đà hoàn, quả thánh thứ nhất, có thể phải tái sinh nhiều lần cõi Người để hoàn thành hạnh nguyện lý tưởng sống cho mình và cho mọi người, là người khẳng định lập trường đạo đức không gì có thể lung lay được, là người có lòng tôn kính Phật tuyệt đối, tuy nhiên vị này chưa đủ thần thông trí tuệ để biết cuộc đời thật giả ra sao nên đôi khi xử lý công việc còn bị nhầm, và thế là còn nghiệp phải trả. Với quả thánh Tu đà hoàn, vị này có khi sinh lên cõi Trời Dục giới (sẽ giải thích sau), hoặc sinh về cõi Người nhiều lần. Vị này hay làm việc thiện nên có duyên với chúng sinh và dễ có phước.
Tam Minh của một vị A la hán là như sau :
-
Túc Mạng Minh, khả năng thấy lại vô lượng kiếp trước của chính mình, thấy rất chi tiết từng việc nhỏ việc lớn không sót chuyện gì, qua đó thấy mối liên quan của mình với vô số chúng sinh khác.
-
Thiên Nhãn Minh, khả năng thấy sự luân hồi tái sinh của chúng sinh trong vô lượng kiếp, thấy chúng sinh lưu chuyển qua các kiếp sống, tạo các hạnh nghiệp, thọ các quả báo theo đúng luật Nhân Quả, thấy rất chi tiết rõ từng chút.
-
Lậu Tận Minh, khả năng thấy rõ đạo lý của vũ trụ này, tức là thấy rõ Tứ Diệu Đế, thấy sự vận hành của mọi thứ, của mọi cõi, như một ngành khoa học vật lý lý thuyết, biết bất cứ thứ gì nếu MUỐN biết, còn không muốn biết thì thôi. Tuy nhiên, chính yếu nhất vẫn là biết đạo lý đến tận cùng uyên áo.
Lục Thông của A la hán là gồm 3 Minh ở trên cộng thêm 3 thứ như sau :
- Thần Túc Thông, là thần lực biến hóa phi hành, phân thân, xoay trời chuyển đất
- Tha Tâm Thông, là khả năng biết được suy nghĩ của chúng sinh dù ở rất xa
- Thiên Nhỉ Thông, là khả năng nghe được tiếng của các loài ở mọi cõi giới
Cõi trời cũng có thể được xem là một phần của Diệt Đế vì cũng bớt được nhiều cảnh khổ của cõi Người cõi Thú…. Tuy nhiên, phải chứng đạt nội tâm giác ngộ thì mới đúng là Diệt Đế trong đạo Phật.
Câu hỏi số 27: CÓ THẬT LÀ NHỮNG VỊ CHỨNG QUẢ THÁNH TRONG ĐẠO PHẬT CÓ THẦN THÔNG NHƯ LÝ THUYẾT KHÔNG?
Đáp: Trong kinh điển của đạo Phật ghi lại rất nhiều lần Phật và các vị A la hán thi triển thần thông phi thường. Có lần tôn giả Gavampati dùng thần thông chặn dòng sông bất ngờ đổ lũ từ trên nguồn xuống, khiến nước sông ứ nghẹn lại tận trên trời cao, kịp thời gian cho các vị Tỳ kheo đang ngủ ở bờ sông tháo chạy lên cao, sau đó tôn giả mới cho dòng nước lũ chảy bình thường trở lại.
Ở Trung Hoa, thời nhà Đường (tìm niên đại), có thiền sư Đặng Ẩn Phong có lần đi ngang thấy hai nước đánh nhau dữ dội, ngài bay lên cao chỉ tay xuống thị uy, thế là hai cánh quân dạt lui lại không đánh nhau nữa.
Ở Việt Nam, thời nhà Lý (tìm niên đại), có hai thiền sư Minh Tâm và Bảo Tánh sau khi thuyết pháp cùng bay lên hư không tự hiện ra lửa đốt thân mình và nhập Niết bàn.
Còn vô số chuyện thần thông của các vị Thánh trong đạo Phật được ghi chép tràn ngập trong kinh điển, trong sách sử khắp nơi.
Câu hỏi số 28: ĐẠO ĐẾ NGHĨA LÀ GÌ?
Đáp: Đạo Đế nghĩa là con đường đưa đến Diệt Đế, đưa đến Niết Bàn siêu việt. Ta cũng gọi là phương pháp, là cách thức, là bản đồ vân vân. Đạo Đế là một hệ thống về phương pháp tu hành trong đạo Phật, vô cùng lớn lao, hoàn hảo, chu đáo, lâu dài, từ căn bản đến rất cao, bao gồm 8 phần như sau :
-
Chánh Kiến (Right Comprehension): là hiểu cho đúng đạo lý tu hành, vì nếu hiểu sai, bị tà kiến, thì càng tu càng cách xa, càng tu càng mang tội. Tuy nhiên, người bị nhiễm tà kiến thì lúc nào cũng khăng khăng cho mình là đúng nên rất khó thay đổi. Có hai Chánh Kiến quan trọng trong đạo Phật là hiểu biết về Luật nhân quả, và Mục tiêu giác ngộ Vô ngã.
-
Chánh Tư Duy (Right Consideration): là dựa vào Chánh Kiến để cân nhắc tính toán suy tư cho đúng với đạo lý, chuyển hóa tâm hồn của mình trở thành thuần thiện, loại bỏ những suy nghĩ sai lầm, hoàn thiện đạo đức sâu sắc. Quá trình gạn lọc hết những ý nghĩ sai lầm cũng rất vất vả chứ không dễ dàng, không ai nhìn thấy tâm ta để giúp ta nên ta phải tự mình đánh giá ý nghĩ của chính mình trong cô đơn để điều chỉnh. Suy nghĩ đúng cũng tạo nên phước.
-
Chánh Ngữ (Right Expression): là dựa vào Chánh Kiến và đạo đức của Chánh Tư Duy để khi giao tiếp với mọi người ta chỉ truyền đạt những điều hay lẽ phải giúp mọi người cùng tiến bộ tu hành. Ngôn ngữ và thái độ trong giao tiếp của ta phải có văn hóa, có đạo đức, có đạo lý, có lợi ích cho mọi người, và hình thành thiện nghiệp, phước lành bằng lời nói càng lúc càng nhiều.
-
Chánh Nghiệp (Right Activities): là những hoạt động có tương tác, có ảnh hưởng đến chúng sinh, đến cộng đồng, đến tâm hồn đến thân phận của người khác. Người tu hành phải siêng năng tạo nên ảnh hưởng tốt đẹp đến chúng sinh, giúp cho chúng sinh được an vui, no đủ, có kiến thức, có đạo đức, có lý tưởng giác ngộ, và như thế chính mình cũng có phước càng lúc càng nhiều. Phước này sẽ hỗ trợ cho công phu tu tập tâm linh thiền định giác ngộ về sau.
-
Chánh Mạng (Right Occupation): là nghề nghiệp mưu sinh chân chính. Ai cũng phải làm gì đó để có thu nhập, có thức ăn, quần áo, nhà ở, các phương tiện phục vụ đời sống. Tu sĩ đi khất thực, sống bằng sự cúng dường giúp đỡ của bá tánh cũng là một loại Chánh Mạng, còn người cư sĩ thì phải đi làm thuê, đi buôn bán, tạo doanh nghiệp, làm công chức…. để kiếm sống. Nhờ phước của Chánh Nghiệp mà ta có được Chánh Mạng, nghĩa là chọn được nghề mưu sinh chân chính, chứ ngoài kia nhiều người bị rơi vào hoàn cảnh phải làm nghề có cái gì ác ác mà không sao thoát ra được. Chánh Mạng là nghề mưu sinh, nhưng lại rất thiện lành, càng hành nghề thì lại càng có phước.
-
Chánh Tinh Tấn (Right Endeavour): là sự nỗ lực tu tập thiền định. Tứ Chánh Cần dùng cho thiện nghiệp, còn Chánh Tinh Tấn là dùng cho công phu tu tập thiền định rồi. Thiền định là chặn đường cuối cùng để đi vào tâm linh giác ngộ, chúng sinh phải nhiếp được tâm, dừng được vọng tưởng, để mở ra lối vào chân lý tột cùng. Tuy nhiên, nhiếp tâm là điều cực kỳ khó khăn, đa phần người ta bị thất bại. Chánh Tinh Tấn là giai đoạn dụng công một phương pháp thiền và chưa có kết quả, chưa có kết quả mà vẫn không bỏ cuộc, đó là Chánh Tinh Tấn. Từ Chánh ở đây còn ám chỉ phương pháp thiền định Đúng nữa. Rất nhiều người tu thiền nhưng đã đón nhận một phương pháp Sai mà không biết. Hành giả phải cầu nguyện để tìm được bậc thầy dạy thiền đúng phương pháp kẻo uổng phí đời tu.
-
Chánh Niệm (Right Mindfulness): là giai đoạn bắt đầu có kết quả trong thiền định, vọng tưởng không còn lộng hành nữa, tâm xuất hiện trạng thái tỉnh giác thường xuyên hơn. Giai đoạn này chưa phải là cao siêu gì, tâm thức vẫn còn là phàm phu với nhiều lỗi lầm thầm kín, nhưng có sự tỉnh giác làm niềm tin, làm ánh đuốc trong bóng đêm. Từ Chánh của giai đoạn này ám chỉ hành giả phải hiểu rõ rằng, tuy có tỉnh giác nhưng vẫn là phàm phu, vẫn phải tiếp tục dụng công tinh tấn chứ không được chủ quan, buông lỏng, rồi lại thoái đọa. Sự tỉnh giác cũng khiến hành giả có thêm động lực để tiến tu.
-
Chánh Định (Right Ecstasy): là giai đoạn không còn phải cố gắng dụng công nhiếp tâm nữa, tâm tự an trú trong thanh tịnh. Có Bốn mức độ Chánh Định là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, và Tứ thiền. Như thế ta phải hiểu rằng, cũng là tâm thanh tịnh, nhưng sâu cạn khác nhau, chứ không phải tâm yên tĩnh đều giống nhau. Bình thường trong đời sống, hành giả có tâm tỉnh giác của Chánh Niệm, chỉ khi cần phải vào định sâu thì mới ngồi bất động để nhập vào các mức Thiền như thế. Ở mức độ Tam thiền, hành giả vào sâu trong Tiềm thức, thấy rõ những hoạt động bí mật của Thần kinh thực vật. Ở mức độ Tứ thiền, hành giả thấy được bản chất của Vũ trụ sâu xa mà khoa học chưa bao giờ hiểu được.
Bát Chánh Đạo là cả một hệ thống tu hành lớn lao mà một chúng sinh phải đi qua nhiều kiếp sống để đến Niết bàn giải thoát giác ngộ.
Câu hỏi số 29: HÃY GIẢI THÍCH THÊM PHẦN CHÁNH KIẾN CHO RẰNG NHẬN THỨC VỀ LUẬT NHÂN QUẢ LÀ QUAN TRỌNG CHÍNH YẾU NHƯ THẾ NÀO?
Đáp: Nếu không hiểu kỹ về Luật Nhân Quả, ta sẽ rơi vào tà kiến, nhìn mọi thứ sai lầm, giải thích mọi thứ sai lầm, rồi ta hành động sai lầm, ta bị tổn phước, ta bị mang tội, đường tu hành giác ngộ bị đóng lại.
Ví dụ như khi ta nhìn thấy một hành giả tu hành sống độc cư siêng năng tọa thiền rồi có kết quả tâm linh, ta bèn kết luận do sống độc cư mà tu hành có kết quả. Cái nhìn này không gắn với Luật nhân quả nên chưa đúng. Ta phải hiểu vị hành giả này có tôn kính một bậc thánh nào từ quá khứ, hoặc là tuy độc cư nhưng vẫn siêng năng lễ kính Phật hàng ngày, tâm từ bi vẫn trải rộng bao la, rồi cộng với công phu thiền định đúng đắn mới tạo nên kết quả thiền định như thế.
Ví dụ như nhìn thấy một người sinh ra trong gia đình giàu có, ta nói người này may mắn, rồi thôi, không có ý kiến gì thêm nữa, đó cũng là sai với Luật nhân quả. Để được sinh ra trong gia đình giàu có thì người này kiếp xưa cũng phải làm phước rất nhiều, kiếp này vừa sinh ra đã được hưởng sự giàu sang sung sướng.
Ví dụ như nhìn thấy một người nghèo khổ, ta cho rằng tại người này lười biếng không lo làm ăn, nói như vậy là không liên kết được với Luật nhân quả nên phạm sai lầm tà kiến. Nhiều người siêng năng mà vẫn nghèo khổ, vì thiếu may mắn, thiếu sự giúp đỡ, hay gặp vận rủi khiến thất bại. Nghèo khó cũng do nhiều nghiệp nhân chứ không nhất định là một nghiệp cố định nào. Có khi nghèo là do bỏn xẻn, có khi do phí phạm, có khi do khinh người nghèo, có khi do sử dụng tiền bạc không hợp lý, có khi do bố thí cho kẻ xấu….
Câu hỏi số 30: KÍNH TIN THẦN THÁNH ĐỂ CẦU NGUYỆN CẦU XIN THÌ CÓ PHẢI LÀ CHÁNH KIẾN HAY KHÔNG?
Đáp: Thật ra hầu hết tất cả thần thánh của các tôn giáo giới thiệu đều là những nhân vật huyền thoại, không có thật trong lịch sử. Tính cách của vị thần thánh đó cũng lệ thuộc vào nhận thức của người giới thiệu. Người giới thiệu sẽ tùy theo vào sức hiểu của mình để giới thiệu về vị thần thánh, nếu sức hiểu cao siêu thì ta sẽ nghe giới thiệu về một vị thần thánh cao siêu, nếu sức hiểu cạn thì ta sẽ nghe giới thiệu về một vị thần thánh cũng đơn giản.
Quan trọng là tính Công bằng của vị thần thánh đó như thế nào mà ta sẽ có Chánh kiến hay không khi dâng lời cầu nguyện lên vị đó. Nếu vị thần thánh đó thưởng phạt công bằng như Luật nhân quả thì việc ta cầu nguyện vị đó vẫn là chánh kiến ; nếu vị đó không dựa vào sự công bằng, chỉ nghe ai khéo tán thán ca ngợi bày biện cúng kiếng linh đình thì phù hộ cho, việc ta cầu nguyện vị đó sẽ bị rơi vào tà kiến.
Tác giả:
Janna
Bài viết liên quan:
Phật Giáo Hỏi Đáp 21–25: Niết Bàn và Tứ Diệu Đế
Phật Giáo Câu Hỏi 16–20: Thiên Giới, Nghiệp, Niết Bàn & Giác Ngộ
Câu Hỏi 11–15: Luật Nhân Quả, Luân Hồi Và Sáu Cõi
Đạo Phật Cho Người Mới Bắt Đầu – Hỏi Đáp 6–10 | Luật Nhân Quả
Đạo Phật Dành Cho Người Mới Bắt Đầu – Hỏi & Đáp 1–5
