
HƯỚNG DẪN NGỒI THIỀN
Thiền là phương pháp thực hành nhiếp tâm vào định, đưa tâm trí đến chỗ an tĩnh, sáng suốt, không xuất hiện ý nghĩ, không dấy động tình cảm..., đặc biệt là giúp hành giả diệt trừ Bản Ngã, chấm dứt vô minh và chứng đạt giải thoát giác ngộ.
Người hướng dẫn thiền phải nắm vững trình tự hệ thống của tài liệu hướng dẫn để giúp người mới tập tu đi đúng đường, có kết quả, không bị phản ứng phụ phát sinh.
MỘT VÀI YẾU TỐ CĂN BẢN HỖ TRỢ CÔNG PHU TU TẬP
Bắt đầu cho sự thiền định và để đạt kết quả tốt trong công phu tu tập, trước hết, chúng ta phải chuẩn bị ba nền tảng căn bản vững chắc. Đó là Đạo Đức – Công Đức – Khí Công.
Đạo đức là sự thánh thiện trong sạch trong tâm hồn, với lòng tôn kính Phật, thương yêu chúng sinh, và khiêm hạ tột cùng.
Công đức là công lao đem an vui hạnh phúc, đạo lý đến cho mọi người.
Khí công là để giữ tiềm lực luôn lắng xuống dưới, giúp cho não bộ ổn định trong sự tu tập.
Trước khi tọa thiền hành giả cần chuẩn bị:
- Trải một tấm tọa cụ trên mặt phẳng. Kích thước tọa cụ phải rộng hơn diện tích ngồi. Tọa cụ có thể làm bằng vải dày, bằng chiếu lát, hoặc bằng một miếng nệm mỏng để ngăn hơi ẩm dưới đất thấm lên trên và để giúp bớt cấn da thịt.
- Đừng mặc quần áo chật chội, bó chặt. Nhưng cũng không nên mặc quần áo thiếu trang nghiêm. Nếu ngồi trong Chánh điện hoặc nơi trang nghiêm thì nên mặc áo tràng.
- Ánh sáng vừa phải, đừng sáng quá cũng đừng tối đen. Tránh chỗ gió thổi đến từ sau lưng. Nơi yên tĩnh vẫn là chỗ thích hợp nhất cho việc tọa thiền.
- Sắp xếp thời gian đều đặn mỗi ngày để tọa thiền thì tốt. Còn không thì tùy những lúc thuận tiện mà ngồi. Không nên ngồi những lúc bụng còn no.
- Không nên bày tỏ khoe khoang cho người khác biết là mình có tu tập thiền định vì có thể làm công phu bị lui sụt. Nên ngồi chỗ không ai trông thấy, trừ khi ngồi chung tập thể.
PHƯƠNG PHÁP
Hành giả theo thứ tự thực hành công phu tu tập thiền định như sau:
1. Phải lễ bậc Thánh (theo tôn giáo bạn) ba lễ với lòng tôn kính tuyệt đối
2. Ngồi kiết già
Bắt chân trái đặt lên đùi phải, sau đó kéo chân phải vắt lên đùi trái. Hai bàn chân nằm vắt lên hai đùi ở một vị trí vừa phải, không quá sát hông, cũng không quá xa hông.
3. Kệ vào thiền
Khi đã ngồi đúng tư thế nghiêm trang. Hành giả chắp tay đọc bài kệ vào thiền ( nếu ngồi một mình thì niệm thầm, nếu ngồi tập thể thì niệm lớn chung với đại chúng).
“Xin bậc Thánh độ cho con
Luôn nhớ và hiểu rằng
Thân chẳng phải là ta
Tâm chẳng phải là ta
Chẳng có gì là ta
Trong từng hơi thở vào
Trong từng hơi thở ra
Trọn niềm tôn kính bậc Thánh.”
4. Tác ý ba tâm hạnh
( Sau khi đọc bài kệ vào thiền và vẫn chắp tay tiếp tục tác ý thầm ba tâm hạnh).
- Nguyện trên bậc Thánh (theo tôn giáo bạn) gia hộ cho con biết tôn kính chư Thánh với lòng tôn kính tuyệt đối vô lượng, vô biên.
- Nguyện trên bậc Thánh gia hộ cho con biết trải lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, dù là thế giới hữu hình hay thế giới vô hình. Cho con thương yêu loài người cũng như cỏ cây, chim thú trong rừng, cá trong nước, cho đến chúng sanh trong địa ngục.
- Nguyện trên bậc Thánh gia hộ cho con biết giữ được lòng khiêm hạ, lúc nào cũng thấy mình như cỏ rác, cát bụi.
( Nếu là người xuất gia, chúng ta tác ý thêm một tâm nguyện nữa):
- Con nguyện lòng quyết tâm giữ được sự vô nhiễm trong sạch.
(Sau khi tác ý 3 tâm hạnh xong, hành giả bắt đầu thực hiện công phu điều thân).
5. Điều thân
a. Đúng tư thế
- Hai bàn tay: Để ngửa và đặt chồng lên nhau, nằm trên hai gót chân. Bàn tay trái để trên lòng bàn tay phải, đầu hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau. Giữ bàn tay thẳng đẹp, đừng để bàn tay cong vòng.
- Mắt: Mở rõ và nhìn xuống một điểm gần trước mặt. Giai đoạn mới tập tu tuyệt dối không được nhắm mắt, vì phải mở mắt mới thấy thân mình có lắc động, có nghiêng hay không khi so sánh với cảnh vật chung quanh. Đến chừng nào thành tựu chánh niệm tỉnh giác, dù nhắm mắt mà vẫn không bị mê mờ thì mới nên nhắm mắt.
- Lưỡi: Để lên nướu rằng hàm trên.
- Miệng: Ngậm kín tự nhiên.
- Lưng: Giữ thẳng, không được để lưng cong chùng xuống, cũng đừng ưỡn lưng thẳng quá sức sẽ làm mau mệt và đầu bị căng (căng thần kinh não).
- Hai vai: Để xuôi tự nhiên, tránh nghiêng bên cao bên thấp.
- Hai cánh tay: Phải hơi khuỳnh ra xa hông. Nhớ giữ đừng để hai cánh tay buông xuôi ép sát vào hông.
- Đầu: Không ngẩng lên, có vẻ hơi cúi xuống một chút xíu. Đừng để nghiêng qua một bên, hay quay qua một bên.
b. Biết toàn thân
Tâm luôn luôn quay vào kiểm soát biết rõ toàn thân, biết từ đầu cho đến tay, chân. Xem lưng có chùng xuống không; hai bàn tay có thẳng đẹp, hai cánh tay có bị ép sát hông không; mắt có nhìn chỗ khác, người có chồm về phía trước hay ngửa ra sau không. Luôn luôn tỉnh giác biết rõ toàn thân, buông lỏng toàn thân. Cơ thể mình bị sai lệch như thế nào thì phải biết rõ và điều chỉnh lại để luôn giữ đúng tư thế.
c. Giữ thân mềm mại bất động
Song song với việc biết rõ toàn thân, ta nhẹ nhàng buông lỏng toàn thân, giữ thân mềm mại bất động, không nhúc nhích, không gồng cứng.
Luôn kiểm tra xem có bộ phận nào bị gồng cứng hay nhúc nhích không, toàn thân có được mềm mại, bất động chưa.
Từng bắp thịt, ngón tay, ngón chân, bắp đùi, bắp vế, bắp tay đều được giữ yên không cử động.
Ta phải luôn kiểm soát thân, vì sau khi ngồi yên một chút sẽ có những thớ thịt, ngón tay, vai, gáy,...tự nhiên gồng cứng lên, phải nhận ra và nhanh chóng thả lỏng lại.
Kiểm tra thường xuyên như thế chính là công phu điều thân.
Lưu ý:
Khi biết rõ toàn thân, nên biết nhiều ở vùng bụng và vùng chân. Phải biết một cách nhẹ nhàng, không chú ý biết, cũng không được dằn ép. Vì khi có sự chú ý biết hoặc dằn ép thì lực sẽ chạy lên đầu làm cho bộ não căng thẳng.
Cũng không được biết một cách mờ mờ ảo ảo. Nếu không tỉnh giác biết rõ toàn thân thì vọng tưởng vẩn vơ khởi lên, ta sẽ không thấy nên dễ đưa vào hôn trầm.
Khi vọng tưởng khởi lên, không cần diệt trừ vọng tưởng, chỉ cần quay trở lại biết rõ toàn thân, kiểm tra tất cả toàn bộ cơ thể là vọng tưởng sẽ tan.
Nếu vọng tưởng khởi lên, ta quay trở lại biết rõ toàn thân mà vọng tưởng vẫn không tắt, thì biết đó là nghiệp, phải thầm tác ý sám hối. Khi tâm yên, ta tiếp tục kiểm soát biết rõ toàn thân.
6. Quán thân vô thường
Ngồi yên theo dõi thân chừng vài phút, ta tự nhủ thầm “thân này là vô thường hư ảo”. Lâu lâu lại tự nhắc như vậy. Ta phải thấy sự biến đổi của thân từ trẻ đến già, từ già đến chết, từ chết đến tan hoại hoàn toàn. Đức Phật dạy, khi quán thân vô thường ta phải chiêm nghiệm vô thường thật kỹ cho đến nơi đến chốn, không được cạn cợt. Phải chiêm nghiệm thân này (không được quán thân người khác) một ngày nào đó sẽ tan hoại.
Sau khi chết khoảng ba ngày, thân này sẽ sình trương. Qua mười ngày bốc mùi hôi thối và đầy dòi bọ. Một tháng sau, các lớp thịt bên ngoài và các cơ quan nội tạng bị phân hủy. Côn trùng, chim thú...đến rút rỉa, hình dáng không còn nguyên vẹn nữa. Còn lại xương khớp thì từ từ cũng rời rạc ra vì không còn gân để nối lại. Rồi theo thời gian, do tác động của mưa nắng, không khí, ...những khớp xương cũng mục dần và tan thành tro bụi, gió thổi cuốn đi.
(Chúng ta phải thực hành quán thân vô thường kỹ lưỡng vài tháng trước khi thêm quán hơi thở).
7. Quán hơi thở
Sau khi điều thân thuần thục, quán thân vô thường nhuần nhuyễn, ta bắt đầu thực hiện pháp tu hơi thở.
Ta biết rõ hơi thở mà không hề can thiệp, không hề điều khiển.
Hơi thở vào, ta biết rõ hơi thở vào.
Hơi thở ra, ta biết rõ hơi thở ra.
Hơi thở vào dài, ta biết rõ hơi thở vào dài.
Hơi thở ra dài, ta biết rõ hơi thở ra dài.
Hơi thở vào ngắn, ta biết rõ hơi thở vào ngắn.
Hơi thở ra ngắn, ta biết rõ hơi thở ra ngắn.
Tức là hơi thở dài hay ngắn, ta đều biết rõ. Nhưng điều quan trọng ở đây là biết mà không can thiệp vào, không điều khiển hơi thở dài hay ngắn theo ý mình. Chỉ đơn giản biết mà thôi. Có khi hơi thở dài, có khi hơi thở ngắn, có khi hơi thở nhẹ, có khi hơi thở mạnh, nhưng ta chỉ biết chứ không được can thiệp.
Có hai cực đoan cần phải tránh về hơi thở:
Một là không biết rõ về hơi thở
Hai là biết mà can thiệp vào hơi thở.
Trung đạo của pháp tu hơi thở chính là biết rõ một cách thụ động, không can thiệp, không điều khiển.
8. Xả Thiền- Hồi hướng
Trước khi xả thiền đọc bài kệ xả thiền và đọc bài hồi hướng ( nếu ngồi một mình thì niệm thầm, nếu ngồi tập thể thì niệm lớn chung với đại chúng).
KỆ XẢ THIỀN
Bậc Thánh gia hộ cho con
Lúc thức cũng như lúc ngủ
Ban ngày cũng như ban đêm
Luôn nhớ thân này vô thường.
Khi đi hoặc là khi đứng
Khi ngồi hoặc là khi nằm
Lúc làm việc hay nghỉ ngơi
Luôn nhớ thân này vô thường.
Khi nghe cũng như khi nói
Đông người hay ở một mình
Xem phim hay là đọc sách
Luôn nhớ thân này vô thường.
Lúc ăn cơm hay uống nước
Khi tắm rửa hay vệ sinh
Đắp y hay mang giày dép
Luôn nhớ thân này vô thường.
Những khi tâm con tỉnh giác
Càng nhớ thân này vô thường
Nguyện cho chúng sanh khắp chốn
Luôn biết thân này vô thường.
Nguyện tất cả chúng sanh
Cùng tinh tấn tu hành
Thoát chấp ngã vô minh
Đồng viên thành Phật đạo.
(Thao tác kế tiếp là những động tác xoa bóp nhẹ nhàng)
- Cúi đầu lên xuống chừng 5 lần.
- Xoay đầu qua lại chậm chậm chừng 5 lần.
- Chuyển động hai vai theo hình tròn lên xuống chừng 5 lần và xoay ngược lại chừng 5 lần.
- Xoay toàn thân dựa trên trục eo lưng qua lại hai bên, mỗi bên khoảng 5 lần.
- Bóp bóp hai bàn tay, xoa hai cánh tay.
- Áp hai bàn tay chà xát cho nóng. Rồi đưa tay lên xoa đầu, mặt, hai tai, cổ, gáy (khoảng chừng 30 giây).
- Xoa hai bàn tay thật nóng rồi áp vào mắt (10 lần).
- Xoa ngực, bụng, sườn.
- Rồi kéo chân ra xoa bóp nhẹ nhàng.
- Sau đó, ngồi tại chỗ một chút cho thoải mái.
(Kế đến đi kinh hành)
9. Kinh hành
Khi đi bách bộ kinh hành vẫn giữ tâm yên tĩnh như khi ngồi thiền.
- Biết toàn thân
- Quán thân vô thường.
Janna
