Janna · 26 thg 8, 2026

PHẦN IV
VỌNG TƯỞNG VÀ SỨC TỈNH GIÁC
1. Vọng tưởng
Ta cần hiểu vài điều về vọng tưởng cho kỹ. Vọng tưởng có nhiều loại:
Vọng tưởng căn bản là sự suy nghĩ cố ý chủ động của chúng ta. Ta có rất nhiều việc phải lo toan, xử lý, tính toán nên ta phải suy nghĩ. Sự suy nghĩ đó như là đại diện của ta, như chính là ta, là giá trị của ta, và sẽ theo ta mãi cho đến khi ta nhập Nhị thiền. Chỉ có điều khác là từ phàm phu đến Nhị thiền thì cái suy nghĩ đó yếu dần yếu dần.
Ở giai đoạn Sơ thiền, cái suy nghĩ đó yếu đến nỗi ta tưởng nó hết rồi, nhưng thật ra nó vẫn còn rất thầm kín, mà kinh gọi là Tầm Tứ. Đối với người tu hành, nếu không phải là suy nghĩ để tính toán, lo toan công việc, thì thường là suy nghĩ về đạo lý tu hành. Cái đạo lý tu hành này, nếu đúng đắn, đã từng là bệ phóng đưa ta đi trên con đường Phật Pháp. Nhưng bây giờ, khi đã có Sức tỉnh giác, thì cái suy nghĩ đạo lý đó cũng không cần nữa.
Vì sao không cần phải suy nghĩ đạo lý tu hành nữa? Bởi vì đạo lý tu hành đã trở thành bản chất tâm hồn ta, qua nhiều năm tháng tư duy và hành động rồi. Bây giờ không cần suy nghĩ nữa kẻo tâm cứ động hoài không vào định được.
Sau nhiều năm tháng tư duy và hành động theo đạo lý chân chính, đạo lý đã trở thành Phước lực để biến thành Sức tỉnh giác rồi.
-
Loại vọng tưởng thứ hai là do những cái ta tiếp thu bên ngoài đưa vào tâm, các hình ảnh âm thanh, bây giờ nó tái hiện lại ngoài chú ý của ta. Ta không muốn, nó vẫn khởi. Có khi ta gạt nó đi, có khi nó dẫn ta đi rất lâu mới giật mình quay lại. Các bài nhạc, các buổi chuyện trò, các đoạn phim, các biển quảng cáo, các trò chơi tập thể, các loại hưởng thụ thấp hèn... đều là nguồn tạo ra vọng tưởng này.
-
Thứ ba, loại vọng tưởng do tình cảm thương ghét tạo ra. Tình cảm có sức mạnh, mạnh hơn lý trí, nên hay thúc đẩy tâm ta khởi lên ý nghĩ quay quắt miên man mãi. Ta cần rất nhiều đạo lý tu hành chân chính để diệt trừ những tình cảm thương ghét tầm thường ẩn giấu sâu xa bên trong, giúp cho tâm bớt bị vọng tưởng loại này.
-
Bốn là loại vọng tưởng do bản năng. Bản năng thì cực mạnh. Ví dụ khi đói, ta chỉ chăm chăm suy nghĩ tìm miếng ăn. Ví dụ khi hận thù, ta chỉ chăm chăm suy nghĩ tìm cách trả thù. Ví dụ khi tự ái, ta chỉ chăm chăm suy nghĩ tìm cách phản ứng cho bõ ghét...
-
Ngoài ra còn có loại vọng tưởng do Nghiệp. Khi ta nặng nghiệp thì tâm ta buộc phải động loạn. Không có chuyện gì mà vọng tưởng cứ phải khởi. Loại vọng tưởng do Nghiệp này có vẻ rất chủ động cố ý. Đó là lý do ta thấy người bệnh tâm thần nói rất hung hăng mạnh bạo (Ngũ ấm xí thạnh).
Khi ta tu tập thiền định mà đủ hai yếu tố, DỤNG CÔNG ĐÚNG PHƯƠNG PHÁP, với CÔNG ĐỨC SÂU DÀY, thì Sức tỉnh giác xuất hiện. Sức tỉnh giác này sẽ cạnh tranh với các loại vọng tưởng ở trên, cũng rất vất vả, cũng mất thời gian, mới thắng dần vọng tưởng.
Nếu ta thấy vọng tưởng mạnh, thì coi lại cách dụng công, nhất là xem tâm có bị rời khỏi da thịt không. Tâm lúc nào cũng phải bám sát da thịt không cho rời khỏi một phân nào.
Tâm bám sát da thịt rồi thì xem lại hơi thở. Có thể chủ động thở theo Âm dương khí công cũng tốt. Hít vào ít, hơi thở tự để giữ yên lại chút, rồi thở ra chậm chậm dài gấp ba bốn lần hít vào.
Trong đời sống thì phải tìm cách cống hiến phụng sự tử tế hết mực, nhất là giúp mọi người biết về đạo lý tu hành. Còn công phu lễ kính Phật mỗi ngày thì xem như là thức ăn không thể thiếu. Thường tác ý cầu xin sám hối nghiệp xa xưa từ vô lượng kiếp.
Nếu ta thấy vọng tưởng mạnh, thì coi lại cách dụng công, nhất là xem tâm có bị rời khỏi da thịt không. Tâm lúc nào cũng phải bám sát da thịt không cho rời khỏi một phân nào.
Tâm bám sát da thịt rồi thì xem lại hơi thở. Có thể chủ động thở theo Âm dương khí công cũng tốt. Hít vào ít, hơi thở tự để giữ yên lại chút, rồi thở ra chậm chậm dài gấp ba bốn lần hít vào.
Trong đời sống thì phải tìm cách cống hiến phụng sự tử tế hết mực, nhất là giúp mọi người biết về đạo lý tu hành. Còn công phu lễ kính Phật mỗi ngày thì xem như là thức ăn không thể thiếu. Thường tác ý cầu xin sám hối nghiệp xa xưa từ vô lượng kiếp.
2. Sức Tỉnh Giác
Sức tỉnh giác xuất hiện sau khi ta Dụng công đúng cách một thời gian, và cũng là sau khi ta tạm đủ phước. Phước và Dụng công đúng cách là hai điều kiện để Sức tỉnh giác xuất hiện. Nếu nói cho đủ về Phước thì ta phải nói cả 3 nền tảng Đạo đức, Công đức, Khí công. Nếu nói về Dụng công đúng cách thì ta phải nói lại từ đầu là điều thân đến tận hơi thở. Nhưng bây giờ chỉ nói ngắn tắt là Phước và Dụng công đúng cách thôi.
Sau này khi nói về dụng công, ta cũng chỉ nói gọn là Biết toàn thân sát da thịt và Biết hơi thở thế thôi. Còn cái Biết thân vô thường thì xem như đã thấm sâu rồi.
Sức tỉnh giác nào giờ chưa có, chỉ sau thời gian tu tập đúng mới bắt đầu có. Sức tỉnh giác mạnh hay yếu tùy duyên phước và công phu riêng của mỗi người, chứ không phải giống hệt nhau. Có người tu đại một phương pháp nào đó rồi cũng xuất hiện Sức tỉnh giác, nhưng vì không phải là phương pháp đúng, lại không biết vun bồi công đức, nên sau một thời gian Sức tỉnh giác đó mất đi, tâm mờ mịt như cũ.
Có người được Sức tỉnh giác ban đầu yếu, nhưng dụng công đúng, lại vun bồi công đức mãi, nên Sức tỉnh giác tăng dần cho đến khi chứng được Chánh niệm hẳn, bước qua giai đoạn mới hoàn toàn.
Sức tỉnh giác mới có thì thường là yếu, vẫn bị vọng tưởng tranh giành chiếm chỗ, phải vất vả tìm lại hoài. Thậm chí có khi Sức tỉnh giác khá hơn nhưng chưa phải vững chắc, vẫn bị vọng tưởng lấn át mãi. Có thiền sư cảnh báo:
“Đốn ngộ tuy đồng Phật, đa sinh tập khí thâm, phong đình ba thượng dũng, lý hiện niệm du xâm”.
Mới có Sức tỉnh giác, mà bị đẩy lên đốn ngộ đồng với Phật khiến cho không ít người tưởng lầm mình đã chứng đạo nên bị tổn phước. Trong khi nhiều đời tập khí sâu, gió dừng sóng vẫn vỗ, sức tỉnh giác hiện ra mà vọng niệm vẫn xâm nhập. Thật ra chỗ này chưa có gì cao siêu, Sức tỉnh giác còn yếu nên vọng tưởng vẫn cạnh tranh lấn át mãi.
Thiền sư Nghĩa Huyền tổ sư của tông Lâm Tế thật đáng khâm phục, xuất hiện Sức tỉnh giác xong là vọng tưởng mất sạch. Nghĩa là Sức tỉnh giác của ngài quá mạnh. Ngài thuật lại điều đó trong câu kệ:
“Kim ngưu tạc dạ tao đồ thán, trực chỉ như kim bất kiến trung”.
Đêm qua trâu vàng đi rơi vào (gặp) đất tro (đất phù sa mịn), nên đến bây giờ mất tích luôn. Chỗ đốn ngộ chứng đạt của ngài rất cao siêu.
Có người xuất hiện được Sức tỉnh giác rồi thì chăm chăm giữ Sức tỉnh giác đó, bỏ công phu Biết toàn thân và Biết hơi thở, nên thời gian sau Sức tỉnh giác yếu lại, có khi mất đứt luôn. Ta phải ghi nhớ rằng, dù cho có Sức tỉnh giác hiện ra, ta vẫn không bao giờ được bỏ cái dụng công gốc, đó là Biết toàn thân và Biết hơi thở.
Có người xuất hiện Sức tỉnh giác ở mức độ khá nên xem thấy vọng tưởng là đối tượng bên ngoài, không cần diệt, chỉ cần BIẾT, là vọng tưởng tan. Người này thích quá, bèn bỏ dụng công gốc, cứ chăm chăm lo canh chừng trên đầu để kịp thời Biết vọng tưởng. Lâu ngày khí lực cạn kiệt, sức khỏe giảm sút, mà Sức tỉnh giác cũng cạn theo. Ta phải ghi nhớ, dù cho có đạt đến mức độ chỉ cần Biết là vọng tưởng tan, thì cũng không được bỏ dụng công gốc là Biết toàn thân và Biết hơi thở, cứ phải Biết toàn thân và Biết hơi thở. Hơi thở thì biết tự nhiên cũng được, hoặc thở theo công thức 1-3-5 cũng rất tốt. Hơi thở vào ít và nhẹ, giữ một chút cho thấm, rồi thở ra chậm chậm.
Cái Sức tỉnh giác ở giai đoạn này còn mong manh, dễ tăng giảm thất thường, nên đừng tự cho mình chứng đắc gì cả.
Những lúc không tọa thiền, phải làm việc và giao tiếp, hành giả phải khéo léo an trú toàn thân để không mất Sức tỉnh giác. Lúc đó thường là không theo dõi hơi thở được, nhưng chỉ cần an trú toàn thân sát da thịt thì Sức tỉnh giác vẫn hiện hữu.
Trong đời sống, phải giữ giới hạnh, đừng làm gì sai, và luôn cố gắng gây tạo công đức lành mãi. Tâm luôn khéo tác ý khiêm hạ, tôn trọng chúng sinh, mong cho ai cũng giác ngộ giải thoát.
3. Cuộc cạnh tranh khốc liệt
Từ xa xưa cho đến nay, tâm hồn ta đều do vọng tưởng làm chủ. Nói là vọng tưởng chứ thực ra đó là cái suy nghĩ. Cái suy nghĩ này có thể đưa ta xuống địa ngục hoặc dẫn ta lên cõi trời. Cái suy nghĩ đó có thể là vẩn vơ vô ích hoặc có thể là suy nghĩ chủ định có lợi ích. Rồi khi ta đến với Phật Pháp, cái suy nghĩ đó cũng là công cụ giúp cho ta cải tạo tâm hồn mình, giúp cho ta dụng công thiền định. Nhưng rồi, cuối cùng, nó cũng chỉ là vọng tưởng.
Ta cần cái suy nghĩ để tạo nên bản chất tâm hồn thuần thiện, và khi tâm hồn đã trở nên thuần thiện thì cái suy nghĩ đó lại là sự vướng víu cản trở. Ta cần cái suy nghĩ để dụng công thiền định, nhưng khi Sức tỉnh giác xuất hiện rồi thì chính cái suy nghĩ đó lại Cạnh tranh làm chủ tâm hồn.
Cuộc đời tu hành của chúng ta bước vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt, AI SẼ LÀM CHỦ TÂM HỒN, Sức tỉnh giác hay Vọng tưởng.
Vọng tưởng vẫn đang tiếp tục làm chủ tâm hồn ta, mặc dù cái vọng tưởng đó toàn lải nhải đạo lý tu hành cao đẹp. Nhất là khi đã xuất hiện Sức tỉnh giác rồi thì vọng tưởng càng phát ra nhiều lý luận thú vị cao siêu. Giai đoạn này ta sẽ dễ nghe hành giả làm thơ viết văn để trình bày kiến giải tu hành đạo lý thiền định, trên mây.
Nhưng sự thúc đẩy của Sức tỉnh giác khiến cho hành giả loay hoay tìm cách diệt trừ vọng tưởng để cho tâm hồn chỉ còn lại Sức tỉnh giác sáng ngời thanh tịnh. Sự cạnh tranh giữa Sức tỉnh giác và vọng tưởng là cực kỳ khốc liệt, để quyết định ta sẽ đạt được giải thoát giác ngộ hay sẽ trở lại sinh tử trầm luân.
Rất nhiều hành giả ban đầu xuất hiện được Sức tỉnh giác rồi, do không đủ công đức, vẫn bị vọng tưởng làm chủ tâm hồn, nên đã lui sụt trở lại phàm phu như cũ.
Chỉ khi nào ta chiến thắng được vọng tưởng, Sức tỉnh giác làm chủ tâm hồn, thì ta thực sự bước vào thế giới của niềm hy vọng giác ngộ mai sau.
Có những thiền sư bất ngờ đốn ngộ, đạt được sự làm chủ tâm hồn của Sức tỉnh giác, nên cảm khái hào sảng tuyên bố Chủ nhân ông Phật Tánh tự tại vô ngại,... Sau này, nhiều người nghe các lời tuyên bố diễn tả trạng thái tâm hồn của Sức tỉnh giác đó, thích quá, nhưng đâu biết rằng để cho Sức tỉnh giác làm chủ được tâm hồn là biết bao nhiêu công đức cực khổ từ nhiều kiếp qua chứ không phải vài giây phút ngắn ngủi nào đó.
Hầu như đa phần chúng ta đều không đủ sức chuyển bại thành thắng, chiến thắng vọng tưởng để cho Sức tỉnh giác làm chủ tâm hồn. Dù cho ta tu tập tinh tấn đến nỗi xuất hiện được Sức tỉnh giác, nhưng không chắc là ta sẽ tu được đến trình độ làm cho Sức tỉnh giác làm chủ tâm hồn. Vì thế, ta cần một công đức rất lớn để nhảy qua giai đoạn khó khăn này.
Dù ta đã làm rất nhiều công đức trong quá quá quá để có thể xuất hiện được Sức tỉnh giác, nhưng vẫn chưa đủ. Lúc này ta cần lễ kính Phật thật nhiều để đủ công đức chuyển biến tình hình: Sức tỉnh giác thay thế vọng tưởng làm chủ tâm hồn.
Lúc này chỉ có công đức lễ kính Phật mới đưa ta vượt qua giai đoạn này, để bước vào giai đoạn mới của Chánh niệm an vui. Khi Sức tỉnh giác làm chủ tâm hồn, ta đã thành con người khác, loài người mới, mọi cái nhìn về thế giới cũng thay đổi hoàn toàn. Nhưng chứng Thiền cũng chưa chắc là chứng Thánh.
Tác giả:
Janna
Bài viết liên quan:
Ba Nền Tảng Của Thiền – Đạo Đức, Công Đức Và Khí Công
Hướng Dẫn Ngồi Thiền: Phương Pháp Và Cách Thực Hành
Ba Giai Đoạn Thiền Định: Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định
Tĩnh Tâm – Thiền Định, Đạo Đức Và An Lạc
Phần II – Giai Đoạn Tu Hành Gian Khổ | Chánh Tinh Tấn Trong Thiền
Tại Sao Chúng Ta Phải Thực Hành Thiền Định? | Câu Hỏi 01
