
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC VỀ THIỀN ĐỊNH – PHẦN 1
1. Tại sao chúng ta phải cần có Công Đức và Đạo Đức mới ngồi thiền?
Vì phước mỏng, công đức thiếu sẽ phát sinh nhiều chướng ngại về tinh thần lẫn vật chất, rất khó cho việc tiến tu. Nếu ta thanh lọc nội tâm, siêng năng làm phước, sống đời vị tha, làm tất cả công đức, ta sẽ mang lại an vui hạnh phúc cho con người.
Một người thiếu đạo đức giới hạnh dễ khuyết lỗ nên hay tạo lỗi lầm, cho dù quả báo xấu chưa đến nhưng tâm sẽ phiền động, rối loạn, bất an và đời sống tu tập bị đọa.
Cho nên, ta phải vừa siêng năng tu tập, vừa kiểm soát nội tâm kỹ lưỡng, luôn giữ lòng khiêm hạ thấy mình nhỏ bé trước chư Thánh, trước mọi người. Như vậy, ta mới có thể diệt trừ tâm kiêu mạn, dứt bỏ tâm ích kỷ.
Nên vì vậy, cái biết toàn thân luôn đi đôi với biết thân vô thường.
Nhờ quán thân vô thường lâu ngày, ta phá dần được các bản năng sâu kín, như ngày xưa ta tham, bây giờ ta hết tham; ngày xưa ta sân giận, bây giờ ta bớt dần sân giận...
Phá được chấp thân, tâm ta sẽ nhẹ nhàng và bớt phiền não hơn. Trong cuộc sống, ta cũng sẽ dễ dàng thông cảm không phiền trách, khi mọi người xung quanh ta rơi vào lỗi lầm, sai sót. Thậm chí, ta tin rằng một ngày nào đó, họ sẽ thay đổi ngược lại so với hôm nay.
Đứng trên giáo lý vô thường, ta sẽ không bao giờ cố chấp mọi việc trên đời luôn tồn tại, cố định. Nhìn sự giàu sang thịnh vượng đang có, ta không ngây thơ tưởng rằng sẽ giữ được bền vững muôn đời. Nhận được bất cứ sự ưu ái nào đến với mình, ta cũng không dại khờ tin rằng người sẽ yêu quý ta mãi mãi. Đối đầu với nghịch cảnh hay trở ngại nào, ta vẫn hẹp hòi, hơn thua, đố kỵ....
2. Trong đời sống hằng ngày, khi phải tiếp xúc, lao tác, sắp xếp, tính toán, phải dụng công như thế nào?
Trong cuộc sống hằng ngày, khi tiếp xúc, lao tác, tính toán, hay lúc nghỉ ngơi... ta luôn kiểm soát thân và tâm, tâm luôn an trú nơi thân và luôn nhớ thân này là vô thường (chánh niệm trong đời sống hằng ngày cực kỳ quan trọng).
3. Tại sao phải quán thân vô thường?
Vì khi ta an trú toàn thân, sẽ tạo ra chấp thân. Biết thân vô thường, ta sẽ không còn chấp “thân này là thật, là của ta”. Và trong cái “không chấp thân” đó, ta sẽ mở ra cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những lỗi lầm sâu kín, và làm cho bản ngã của ta mỏng nhạt dần.
Nên vì vậy, cái biết toàn thân luôn đi đôi với biết thân vô thường.
Nhờ quán thân vô thường lâu ngày, ta phá dần được các bản năng sâu kín, như ngày xưa ta tham, bây giờ ta hết tham; ngày xưa ta sân giận, bây giờ ta bớt dần sân giận...
Phá được chấp thân, tâm ta sẽ nhẹ nhàng và bớt phiền não hơn. Trong cuộc sống, ta cũng sẽ dễ dàng thông cảm không phiền trách, khi mọi người xung quanh ta rơi vào lỗi lầm, sai sót. Thậm chí, ta tin rằng một ngày nào đó, họ sẽ thay đổi ngược lại so với hôm nay.
Đứng trên giáo lý vô thường, ta sẽ không bao giờ cố chấp mọi việc trên đời luôn tồn tại, cố định. Nhìn sự giàu sang thịnh vượng đang có, ta không ngây thơ tưởng rằng sẽ giữ được bền vững muôn đời. Nhận được bất cứ sự ưu ái nào đến với mình, ta cũng không dại khờ tin rằng người sẽ yêu quý ta mãi mãi. Đối đầu với nghịch cảnh hay trở ngại nào, ta vẫn .giữ vững đạo tâm, không bi quan, tuyệt vọng vì biết rằng mọi điều rồi sẽ qua đi...
Vì thế, khi tu tập, việc “biết rõ toàn thân” sẽ giúp cho thần kinh não bộ của ta được thư giãn và trở lại đúng chức năng của nó.
Nếu không thấy được thân vô thường, ta yêu quý thân ta thì những bản năng tiềm tàng, sâu kín trong hành ấm vẫn còn nguyên vẹn. Lúc đó, tuy não thư giãn, nhưng những ích kỷ, ham muốn, sân hận, tham lam... vẫn có nguy cơ đưa ta đến hố sâu sa đọa về sau (do bản ngã còn nguyên).
Còn khi biết rõ toàn thân, tiếp đến biết thân vô thường, thì những nguy cơ đang tồn tại ấy sẽ dần dần tan biến. Đó là lý do vì sao Đức Phật dạy ta chiêm nghiệm thân này đến ngày nào xương cũng có lúc tan thành tro bụi và bay đi.
**
4. Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?**
Vì hơi thở phản ánh mọi hoạt động của tâm thức, nên khi có sự tác ý can thiệp điều khiển, sẽ làm hơi thở bế tắc, ngưng trệ, khiến cho bản ngã tăng trưởng.
Ta chỉ biết hơi thở một cách thụ động, hơi thở như thế nào thì biết như thế nấy, dù hơi thở có thể dài, có thể ngắn, có thể yếu, có thể mạnh... ta chỉ cần biết mà không can thiệp. Bất cứ sự chú ý hay can thiệp nào cũng đưa đến tình trạng căng thẳng, tức ngực và mệt mỏi.
Trong suốt thời gian ngồi thiền, hơi thở của ta sẽ khó đều đặn. Những vọng tưởng bí mật của nội tâm sâu kín sẽ chi phối hơi thở, khiến cho hơi thở khi dài, khi ngắn, khi yếu, khi mạnh... khác nhau.
Ví dụ: Khi ta bị căng thẳng vì cố tập trung thì hơi thở sẽ mạnh. Khi nội tâm yên tĩnh, hơi thở trở nên êm dịu hơn, dài hơn. Khi nội tâm xung động ngấm ngầm bên trong tâm thức hơi thở vẫn ngắn và mạnh. Nếu có những cảm xúc sợ hãi, thương ghét... khởi lên, thì hơi thở càng dồn dập rõ hơn.
Tức là mọi hoạt động của tâm thức biểu hiện qua hơi thở. Do vậy, biết rõ hơi thở là biết rõ tâm ta đang động hay tịnh.
Ta kiềm chế hơi thở, điều khiển hơi thở, tuy tâm có yên, nhưng não bị căng thẳng, và quan trọng là nguy cơ tăng trưởng bản ngã tiếp sau đó. Nên ta nhớ, điều khiển hơi thở chỉ đưa đến tăng trưởng ngã chấp.
Khi hơi thở mạnh, ta biết tâm mình động. Biết như thế, chính là ta đã nhận ra được lỗi của mình và thầm sám hối. Nhờ vậy, chỉ ít lâu sau, vọng tưởng lắng xuống, tâm thức ta lắng xuống, hơi thở sẽ tự dịu lại mà không cần điều khiển, nhất là bản ngã sẽ không có cơ hội khởi lên và phát triển.
Mấu chốt của việc điều hơi thở chính là biết mà không điều khiển.
Đó là lý do Đức Phật dạy ta “Hơi thở dài, biết là hơi thở dài – Hơi thở ngắn, biết hơi thở ngắn – Hơi thở ít, biết hơi thở ít – Hơi thở nhiều, biết hơi thở nhiều”.
