Janna · 27 thg 10, 2026

HỎI ĐÁP THIỀN ĐỊNH 32–36: KHÍ, THIỀN CHỈ, THIỀN QUÁN VÀ TƯ THẾ KIẾT GIÀ
CÂU HỎI 32: CƠ CẤU KHÍ LỰC VÔ HÌNH CỦA CƠ THẾ LÀ NHƯ THẾ NÀO?
ĐÁP: Theo triết lý Âm dương, gốc sức khỏe nằm ở phía dưới của cơ thể. Nếu khí lực được lắng xuống dưới (phần âm) thì cơ thể ổn định tốt đẹp. Hệ thống bụng dưới từ huyệt Đan điền cho đến huyệt Hội âm là phần âm cực kỳ quan trọng cho tinh thần và sức khỏe. Nếu hệ thống đó khỏe mạnh chắc chắn thì con người sẽ ổn định và khoan khoái. Nếu hệ thống đó yếu thì con người sẽ èo uột, dễ bị bệnh và khó nhiếp tâm. Những vị tu theo Tiên đạo luôn xem việc luyện tập để khí lực lắng xuống bụng dưới là ưu tiên hàng đầu. Do đó, nguyên tắc tổ chức khí lực lý tưởng nhất, ổn định nhất là theo cơ cấu hình giọt nước rơi: phía đáy to, phần chóp nhỏ, tức là khí ở dưới đầy, còn phần trên ít. Và khí lực vô hình tiềm tàng ở bên dưới cơ thể được gọi là chân âm - một yếu tố rất quan trọng đối với sức khỏe và việc nhiếp tâm của con người.
CÂU HỎI 33: XIN NÓI RÕ HƠN VỀ PHÉP TU CHỈ VÀ TU QUÁN?
ĐÁP: Trong kinh điển Nikaya, Chỉ và Quán được nhắc đến rất nhiều. Chỉ, với ý nghĩa căn bản là sự dừng lại. Ví dụ như khi chúng ta an trú tâm ở vùng ngực bụng, làm cho vọng tưởng lắng dịu. Sự an trú như vậy được gọi là “Chỉ”. Theo ngôn ngữ ngày nay, Chỉ là những kỹ thuật, nghĩa là dựa vào tính chất tâm lý và sinh lý của cơ thể, như cách thở thế nào và an trú tâm ở đâu để tâm bớt loạn.
Ý nghĩa căn bản của Quán là xem xét một đối tượng dựa trên đạo lý, chỉ đúng khi sự xem xét đó giúp tâm vào định. Ví dụ như khi quán thân, chúng ta quán theo đạo lý vô thường, tự nhắc đi nhắc lại một cách thong thả: “Thân này là vô thường, mong manh, rồi một ngày cũng già, bệnh, chết. Chết rồi xương cũng mục rã thành cát bụi bay đi”. Nhờ xem xét như vậy lâu ngày, chúng ta bớt chấp thân (là căn bản của chấp ngã), và nhờ đó tâm an định hơn. Có những người tu thiền với căn cơ đặc biệt, chỉ cần quán vô thường cũng có thể nhập định. Thời xưa gọi là "Quán", ngôn ngữ ngày nay gọi là đạo lý. Kinh xưa còn ghi Đức Phật thường cho đệ tử đề mục thiền quán thuộc về đạo lý để tác ý và quán chiếu khi thực hành Thiền định, như quán thân vô thường, quán các pháp là vô thường, vô ngã... mà rất nhiều vị đã chứng đạo.
Một phương pháp thiền chuẩn xác phải bao gồm hai yếu tố: kỹ thuật (chỉ) và đạo lý (quán). Kỹ thuật và đạo lý giống như đôi cánh của một con chim, cùng kết hợp với nhau giúp tâm chúng ta dần yên lắng và tiến sâu vào các tầng bậc thiền định.
CÂU HỎI 34: KỸ THUẬT ĐIỀU THÂN CÓ VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO TRONG CÔNG PHU TU TẬP THIỀN ĐỊNH?
ĐÁP: Tổng quát của kỹ thuật điều thân là: ngồi đúng tư thế, biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, buông lỏng toàn thân, bất động toàn thân. Xin nhắc lại:
“NGỒI ĐÚNG TƯ THẾ
BIẾT RÕ TOÀN THÂN
AN TRÚ TOÀN THÂN
BUÔNG LỎNG TOÀN THÂN
BẤT ĐỘNG TOÀN THÂN”
Khi chúng ta điều thân như vậy thì dòng suy nghĩ, lý luận vẫn tiếp tục khởi lên trong tâm. Nhưng chúng ta không chấp nhận những suy nghĩ và cũng không dằn ép diệt trừ các suy nghĩ đó, mà chỉ nhẹ nhàng quay trở lại điều thân. Công phu điều thân là kỹ thuật căn bản của thiền nhưng vô cùng quan trọng, là bắt đầu và cũng là vĩnh viễn trong hành trình thiền định. Chúng ta cứ đi chắc từ những điều căn bản, đừng vội vàng hấp tấp mà phải điều thân cho kỹ lưỡng. Dù tâm có nhiều vọng tưởng hay xuất hiện trạng thái gì xin hãy quay lại điều thân, biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, buông lỏng và giữ thân mềm mại, bất động bởi vì thân chính là gốc của tâm, thân yên ổn là nền tảng giúp tâm đi vào an định.
CÂU HỎI 35: CÓ NHIỀU CÁCH THIỀN NHƯ NGỒI KIẾT GIÀ, BÁN GIÀ, NGỒI KHOANH CHÂN, NGỒI TRÊN GHẾ, NẰM… NHƯNG SAO PHẢI NGỒI ĐÚNG TƯ THẾ KIẾT GIÀ?
ĐÁP: Trên thực tế, nhiều người cho rằng ngồi sao cũng được, thậm chí nằm hay ngồi dựa lưng, miễn là cảm thấy thoải mái. Tuy nhiên, trong các tư thế thì ngồi kiết già được xem là tối ưu và giúp giữ thân tâm ổn định nhất. Thời gian đầu mới tập chúng ta sẽ cảm thấy mệt mỏi, đau nhức, tê cứng lưng, bắp chân, đầu gối, cổ chân... Cái đau, cái mệt cùng sự khó chịu sẽ tác động vào tâm khiến chúng ta khó tập trung vào công phu thiền định, thậm chí xuất hiện tâm lý muốn xả chân ngồi cho thoải mái, bớt đau hơn. Nhưng khi xác định tu thiền theo lời Phật dạy, chúng ta phải vượt qua tất cả những điều đó. Mười phương Ba đời Chư Phật đều ngồi kiết già thiền định vì đặc điểm thù thắng của nó.
Khi ngồi với tư thế kiết già, hai chân bắt chéo vào nhau, các ngón tay khép lại, bàn tay trái đặt lên lòng bàn tay phải, giữ lưng thẳng… từng tư thế nhỏ kết hợp lại với nhau phù hợp hoàn toàn với cấu trúc sinh lý của não, khiến cho não bộ được thư giãn. Tư thế này đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, để máu lưu thông từ tim lên não và xuống lòng bàn chân. Đây cũng là tư thế duy nhất mà hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân tụ lại ở phần bụng dưới. Tư thế này hỗ trợ cho chúng ta dễ an trú tâm ở bụng dưới. Hai bàn tay ở xa nhau thì không đạt được yêu cầu trên.
Hơn nữa, muốn tìm được đúng cường độ hơi thở (hơi thở dính vào tâm) để nhiếp tâm vào định thì chúng ta buộc phải ngồi tư thế kiết già trang nghiêm, trong đời sống bình thường hay trong các tư thế khác đều không thực hiện được. Đặc biệt là trước khi vào định, tâm sẽ tự động kiểm tra, nếu không đúng tư thế kiết già thì tâm chưa thể nhập định.
CÂU HỎI 36: BẮT ĐẦU NGỒI THIỀN CẦN PHẢI TÁC Ý NHƯ THẾ NÀO Ạ?
** ĐÁP**: Chúng ta bắt đầu ngồi thiền: sau khi vắt chân kiết già, rồi chắp tay niệm Phật sám hối tội lỗi từ vô lượng kiếp xưa, cầu xin Phật gia hộ cho ai ai cũng tu hành tiến bộ, cầu nguyện cho tất cả chúng sinh đều chứng được thiền định đạt được giác ngộ, vô ngã hoàn toàn. Rồi tác ý ba tâm hạnh:
- Nguyện lòng tôn kính Phật tuyệt đối
- Nguyện lòng thương yêu chúng sinh vô hạn
- Nguyện lòng giữ tâm khiêm hạ tột cùng
Xin nói thêm về công dụng của ba tâm hạnh vừa giúp chúng ta có phước, vừa củng cố đạo đức từ thẳm sâu trong tâm hồn. Mỗi một tâm hạnh cũng có thể được suy nghiệm kỹ hơn tùy theo chúng ta cảm nhận mình đang cần gì. Ví dụ như khi tác ý lòng tôn kính Phật tuyệt đối, chúng ta có thể chiêm nghiệm về tình thương và sự vĩ đại của Đức Phật. Hay khi tác ý lòng thương yêu chúng sinh vô hạn, chúng ta có thể trải lòng đến những người đã từng mưu hại, ganh ghét mình, hay người đã giúp đỡ mình qua lúc khó khăn, cho đến cả những con vật, cỏ cây chim thú, hay những chúng sinh trong cõi siêu hình, chúng sinh đang trong nơi địa ngục. Hay khi tác ý giữ tâm khiêm hạ tột cùng, chúng ta có thể xem mình như cát bụi cỏ rác và thật lòng muốn mình tôn trọng tất cả mọi người.
Sau khi tác ý ba tâm hạnh, chúng ta cũng có thể tác ý thêm những Chánh tư duy khác như: “Xin cho con và tất cả chúng sinh được sống cuộc sống giới hạnh thanh tịnh, không nhiễm ô, lìa xa ái dục”, hoặc “Xin cho chúng con luôn nhớ và hiểu rằng tâm mình xấu xa, tội lỗi…” Rồi chúng ta đặt tay xuống, bắt đầu vào thời thiền.
Tác giả:
Janna
Bài viết liên quan:
Vai Trò Của Khí Công Trong Thực Hành Thiền | Hỏi Đáp Thiền 31
Vì Sao Các Phương Pháp Thiền Khác Nhau Vẫn Có Thể An Trụ Tâm? | Hỏi Đáp Thiền Định 30
Câu hỏi 29: Làm Sao Tìm Được Sự Tĩnh Lặng Giữa Những Trách Nhiệm Cuộc Sống?
Câu Hỏi Thiền Định 28: Có Nên Tích Lũy Nhiều Công Đức Trước Khi Thiền?
Hỏi Đáp Thiền 27: Ý Nghĩa Của Sự Khiêm Tốn Trong Thiền Định
